Báo cáo kết quả giám sát công tác quản lý đất đai

HĐND HUYỆN VŨ QUANG

BAN KT-XH

Số: 52 /BC-BKTXH

  CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Vũ Quang, ngày 16  tháng 7 năm 2020

THÔNG BÁO

Kết quả giám sát một số nội dung trong công tác quản lý sử dụng đất công trên địa bàn huyện giai đoạn 2017-2019

Thực Nghị quyết số 03/NQ-HĐND ngày 29/7/2019 của Hội đồng nhân dân huyện về Chương trình giám sát của HĐND huyện năm 2020. Ban Kinh tế – Xã hội HĐND huyện đã tổ chức giám sát chuyên đề về “Một số nội dung trong công tác quản lý sử dụng đất công trên địa bàn huyện giai đoạn 2017-2019”. Trên cơ sở giám sát trực tiếp đối với UBND huyện và UBND xã Đức Bồng, Sơn Thọ, Thị trấn. Qua giám sát, Ban Kinh tế – Xã hội báo cáo kết quả như sau:

  1. KẾT QUẢ GIÁM SÁT

1.Công tác lãnh đạo chỉ đạo, tổ chức thực hiện

Căn cứ Luật Đất đai, Nghị định của Chính phủ, Chỉ thị của Thủ tướng chính phủ và các văn bản hướng dẫn của Bộ Tài nguyên – Môi trường, kế hoạch của UBND tỉnh, UBND huyện đã chỉ đạo phòng Tài Nguyên – Môi trường tham mưu ban hành các văn bản chỉ đạo, hướng dẫn các địa phương thực hiện các nội dung trong quản lý, sử dụng đất đai trong đó có đất công đảm bảo theo quy định.

Các địa phương đã tuyên truyền các quy định, hướng dẫn trong quản lý sử dụng đất đai đến các tổ chức, cá nhân sử dụng đất; kiểm tra, giám sát việc sử dụng đất công của các tổ chức cá nhân theo mục đích sử dụng của từng loại đất.

Tuy nhiên qua giám sát cho thấy: Hiệu quả công tác tuyên truyền chưa cao; số lượng văn bản cấp huyện ban hành nhiều nhưng việc theo dõi, đôn đốc triển khai thực hiện chưa thường xuyên, ở cấp xã chưa có hồ sơ thể hiện kế hoạch cụ thể hóa hoạt động quản lý đất đai và công tác kiểm tra giám sát đối với hoạt động này nên một số hạn chế trong quản lý, sử dụng đất còn tồn tại, chưa được giải quyết kịp thời, một số diện tích đất công còn để hoang hóa, gây lãng phí tài sản Nhà nước.

  1. Đối với đất xây dựng trụ sở, nhà làm việc các cơ quan đơn vị, đất hội quán, trường học, trạm y tế

Theo báo cáo của UBND huyện, hiện nay toàn huyện có 250 trụ sở[1], hội quán, trong đó có 143 trụ sở đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất chiếm 57,2%. Nhìn chung việc quản lý đất của tổ chức cơ bản đảm bảo theo quy định.

Tuy nhiên qua giám sát tại 3 đơn vị cho thấy trong quản lý, sử dụng đất của các tổ chức vẫn còn một số tồn tại, hạn chế:

1/Hiện nay vẫn còn 83 trụ sở, hội quán được giao đất đang sử dụng nhưng chưa quan tâm việc lập hồ sơ cấp giấy CNQSDĐ, tập trung ở các tổ chức như trường học, nhà văn hóa thôn, trạm y tế…

2/ Đối với diện tích đất các trụ sở, hội quán cũ không còn sử dụng: Hiện nay có 38 trụ sở, hội quán cũ không sử dụng chiếm 15,2%, một số trụ sở, hội quán diện tích trong hồ sơ và giấy chứng nhận QSDĐ không đúng với hiện trạng; tình trạng một số hội quán quản lý chưa tốt, vẫn để người dân sử dụng, lấn chiếm đất đai, trồng cây lâu năm trên đất khuôn viên của hội quán (hội quán thôn 5 và thôn 8 cũ xã Thọ Điền)

3/ Các địa phương, đơn vị lúng túng trong việc xin ý kiến cấp trên để thanh lý tài sản và chuyển mục đích sử dụng đất đối với các hội quán cũ, nhà làm việc không còn sử dụng gây lãng phí đất đai, tài sản, ảnh hưởng đến cảnh quan.

4/ Công tác thống kê, rà soát việc sử dụng đất giao cho tổ chức của các cơ quan quản lý nhà nước chưa thường xuyên nên dẫn tới số liệu tổng hợp chưa đầy đủ, chính xác; Việc kiểm tra, xử lý trách nhiệm của các tổ chức vi phạm chưa được quan tâm.

  1. Đối với đất công ích

          Theo báo cáo của UBND huyện, toàn huyện hiện có 452 thửa đất công ích với tổng diện tích 39,79 ha, chiếm 0,63% so với quỹ đất nông nghiệp để tính đất công ích theo quy định. Trong thời gian qua quỹ đất này chủ yếu cho các hộ gia đình, cá nhân thuê để sử dụng cơ bản đảm bảo đúng mục đích.

          Tuy nhiên, qua giám sát cho thấy việc quản lý, sử dụng đất công ích của huyện và tại các địa phương còn một số khó khăn, hạn chế như sau:

          1/ UBND tỉnh chưa thực hiện việc phê duyệt phương án quản lý, sử dụng đất công ích hằng năm ở các xã; công tác hướng dẫn, kiểm tra đối với các địa phương trong quản lý sử dụng quỹ đất này chưa được quan tâm đúng mức.

          2/ Hiện nay đất công ích tại các địa phương còn lại rất ít, đa số nằm phân tán, có một số nằm xen kẽ trong diện tích đất giao ổn định của các hộ gia đình nên không thể hiện đầy đủ trên bản đồ và thống kê chưa đầy đủ chính xác.

          3/ Đa số việc quản lý, sử dụng đất công ích tại các địa phương không đảm bảo quy định: Không có kế hoạch sử dụng đất công ích cụ thể từng năm; một số địa phương giao cho thôn xóm tự quản lý, cho thuê và sử dụng nguồn kinh phí thu được vào mục đích của thôn xóm (thị trấn); hộ gia đình, cá nhân thuê đất công ích nhưng không tổ chức đấu giá, không có hợp đồng cho thuê đất để làm căn cứ pháp lý theo quy định vẫn đang rất phổ biến nhưng chưa được chấn chỉnh kịp thời (Thọ Điền, Thị trấn).

          4/ Tại xã Sơn Thọ kinh phí thu được từ cho thuê đất công ích được quản lý và sử dụng không đúng với quy định tại khoản 3 điều 132 Luật đất đai. Trong 3 năm 2017- 2019  kinh phí thu được từ cho thuê đất không sử dụng cho mục đích công ích mà sử dụng để chi cho hoạt động thường xuyên của UBND xã.

          5/ Hiện nay quỹ đất công ích ở các xã, thị trấn còn lại rất ít, trong khi diện tích đất khai hoang, biền bãi do xã quản lý ở một số địa phương còn khá nhiều nhưng chưa được đưa vào quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất.

  1. Đối với đất đã bồi thường giải phóng mặt bằng xây dựng các công trình, dự án có sử dụng nguồn ngân sách nhà nước

          Đối với đất đã bồi thường giải phóng mặt bằng để xây dựng các công trình dự án thì cơ bản đến nay đều sử dụng đảm bảo đúng mục đích.

Tuy nhiên qua giám sát tại 3 địa phương đoàn nhận thấy có một số nội dung tồn tại hạn chế phát sinh trước năm 2017 đến nay chưa được giải quyết:

1/ GPMB bãi VL1 và tuyến kênh chính Ngàn Trươi – Cẩm Trang tại thôn 4 xã Đức Bồng, công trình dự án đã hoàn thành nhưng có 4.030,5 m2 đất của 02 hộ dân[2] đã nhận tiền bồi thường nhưng đến nay 2 hộ này vẫn chưa thực hiện việc di dời để bàn giao mặt bằng nhưng các cơ quan liên quan chưa có phương án xử lý gây bất công, dư luận không tốt trong nhân dân.

2/Diện tích đất hành lang kênh mương Ngàn Trươi – Cẩm Trang, bãi thải vật liệu số 1, 2  tại TDP1 thị trấn và khu vực Đượng Kem của TDP 5 đến nay chưa được ban quản lý dự án cắm mốc, bàn giao về cho địa phương do đó các địa phương không có cơ sở để quản lý và xử lý các lấn chiếm, tranh chấp đất đai của người dân. Thời gian qua có tình trạng người dân tự ý chiếm dụng, trồng keo trên phần diện tích đất này nhưng địa phương không đủ thẩm quyền để xử lý.

3/Thi công hạng mục Đập dâng thị trấn Vũ Quang, trong đó có thu hồi 2.502,9m2 đất của 3 hộ dân ở TDP 5 với tổng kinh phí bồi thường 893,627 tr.đồng. Sau khi thu hồi thì phần diện tích này cũng không sử dụng đến, các hộ dân vẫn sử dụng toàn bộ diện tích đó. Hiện nay còn 456,594 tr.đồng chưa thu hồi được từ 3 hộ dân nói trên[3] nhưng các cơ quan liên quan chưa có giải pháp.

4/ Đất đã GPMB để xây dựng Khu xử lý rác thải của huyện tại thôn 6, Đức Bồng với diện tích 45.000m2 [4]. Sau khi GPMB  năm 2016, không được sự đồng thuận của nhân dân để xây dựng khu xử lý rác thải do đó UBND tỉnh đã có văn bản số 5602/UBND-XD1 ngày 17/9/2018 cho phép điều chỉnh quy hoạch để xây dựng khu xử lý rác thải sang địa điểm mới ở thôn Hương Hòa, xã Đức Hương. Tuy nhiên, đến nay huyện chưa điều chỉnh mục đích sử dụng đất và không giao cho địa phương quản lý, sử dụng đối với phần diện tích đất đã GPMB trên, để xẩy ra tình trạng một số hộ dân đang lấn chiếm và tự ý trồng cây keo trái phép mà chưa được xử lý kịp thời gây thất thoát nguồn thu ngân sách.

5/Từ cầu hói Trảy đến cầu vượt kênh mương trên địa phận thôn 4, xã Đức Bồng có 4.147,8m2 đất ruộng của 11 hộ dân tại đồng Phúc Môn nằm kẹp giữa đường tỉnh lộ 552 và kênh mương Ngàn Trươi – Cẩm Trang không có hệ thống tưới tiêu và đường lên xuống để sản xuất nên hiện nay người dân không canh tác được.

  1. Kiến nghị, đề xuất
  2. Đối với tổ đại biểu HĐND tỉnh ứng cử tại Vũ Quang

1/ Kiến nghị với UBND tỉnh cần ban hành quy định cụ thể về quản lý, sử dụng quỹ đất nông nghiệp sử dụng vào mục đích công ích trên địa bàn tỉnh để các địa phương có căn cứ cụ thể nhằm thực hiện tốt hơn; tổ chức rà soát kiểm kê lại các thửa đất công ích và giao cho các địa phương quản lý sử dụng theo đúng quy định.

2/ Kiến nghị với UBND tỉnh chỉ đạo Ban quản lý dự án và đầu tư xây dựng công trình nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh khôi phục lại mốc GPMB kênh chính Ngàn Trươi và bàn giao hồ sơ, đất đai[5] cho địa phương quản lý theo quy định, tránh tình trạng để người dân tái lấn chiếm đất đã được nhà nước bồi thường.

3/ Kiến nghị với UBND tỉnh xem xét hỗ trợ kinh phí để bồi thường cho 11 hộ dân có 4.147,8 m2 đất ruộng tại đồng Phúc Môn, xã Đức Bồng nằm kẹp giữa đường tỉnh lộ 552 và kênh mương Ngàn Trươi – Cẩm Trang.

  1. Đối với UBND huyện:

1/ Tiếp tục chỉ đạo các địa phương, phòng chuyên môn thực hiện  nghiêm túc các nội dung, yêu cầu theo Kế hoạch số 125/KH-UBND ngày 12/4/2018 của UBND tỉnh về triển khai thực hiện Chỉ thị số 01/CT-TTg ngày 03/01/2018 của Thủ tướng Chính phủ; làm tốt công tác tuyên truyền pháp luật về đất đai đến đông đảo cán bộ, người dân để nắm vững, hiểu và tự giác thực hiện quyền và nghĩa vụ về đất đai. Tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ, tập huấn nhằm nâng cao nghiệp vụ chuyên môn, trách nhiệm công vụ đối với đội ngũ làm công tác địa chính cấp xã.

          2/ Chỉ đạo phòng chuyên môn khẩn trương rà soát các tổ chức chưa được cấp giấy CNQSDĐ lần đầu và có nhu cầu cấp đổi, các tổ chức bị lấn chiếm hoặc không có nhu cầu sử dụng để có kế hoạch xin ý kiến cấp trên giải quyết, phấn đấu hết năm 2021 hoàn thành việc cấp giấy chứng nhận QSDĐ cho các tổ chức và đối với các tổ chức không có nhu cầu sử dụng hoàn thành việc thanh lý tài sản trên đất và chuyển mục đích sử dụng đất hợp lý, đảm bảo quy định.

          3/ Chỉ đạo các địa phương tổ chức rà soát kỹ quỹ đất công ích ở từng địa phương chi tiết đến từng thửa, vị trí, diện tích, cắm mốc rõ ràng; chấn chỉnh công tác quản lý sử dụng quỹ đất công ích ở các địa phương đảm bảo theo đúng quy định.

          4/ Chỉ đạo các phòng ban chức năng phối hợp với các đơn vị liên quan rà soát đầy đủ, thực hiện việc giải quyết dứt điểm, phù hợp theo quy định đối với những hộ dân đã nhận tiền đền bù GPMB liên quan đến thi công các hạng mục công trình của dự án Ngàn Trươi Cẩm Trang nhưng đến nay chưa thực hiện việc di dời theo quy định[6].

          5/ Trong năm 2020 cần có phương án xử lý đối với 4.500 m2 đất đã thu hồi để làm bãi xử lý rác thải huyện ở Đức Bồng.

          6/ Tiếp tục chỉ đạo ngành chức năng và chính quyền cấp xã tăng cường rà soát, tháo gỡ vướng mắc; tổ chức kiểm tra và tháo gỡ kịp thời các vi phạm trong quản lý, sử dụng đất đai của các tổ chức, cá nhân theo quy định của pháp luật.

  1. Đối với xã Đức Bồng, Thọ Điền và Thị trấn

          3.1. Hội đồng nhân dân:

          1/ Dựa vào kết quả giám sát của Ban KT-XH HĐND huyện để theo dõi, đôn đốc, giám sát việc khắc phục những tồn tại hạn chế trong công tác quản lý sử dụng đất công tại địa phương mình. Chủ động trao đổi những khó khăn, vướng mắc, kinh nghiệm hoạt động của các Ban, Thường trực HĐND cấp xã với các Ban HĐND huyện, Thường trực HĐND huyện.

2/Trong thời gian tới cần nâng cao hiệu quả hoạt động giám sát, chú trọng hơn trong giám sát công tác quản lý và sử dụng đất công tại địa phương.

          3.2. Ủy ban nhân dân:

          1/ Chấp hành nghiêm túc các chỉ đạo, quy định, hướng dẫn của cấp trên trong lĩnh vực quản lý đất đai, trong đó có đất công, đất công ích. Thực hiện tốt công tác tuyên truyền pháp luật về đất đai đến đông đảo cán bộ, người dân, tổ chức để nắm vững, hiểu và tự giác thực hiện. Phối hợp với các tổ chức sử dụng đất tuyên truyền, vận động người dân hoàn trả diện tích đất lấn chiếm; giải quyết, xử lý nghiêm các trường hợp lấn chiếm đất công.

2/ Rà soát lại quỹ đất công ích đến từng thửa, đảm bảo chính xác. Bên cạnh đó cần soát xét đưa diện tích đất khai hoang, đất các hộ gia đình, cá nhân trả lại hoặc tặng cho nhà nước vào quỹ đất công ích (5%) để phát triển quỹ đất này của các địa phương; tập trung quản lý sử dụng đất công ích đảm bảo theo quy định, tránh trường hợp giao cho thôn xóm quản lý.

3/ Khắc phục việc cho hộ gia đình, cá nhân thuê đất công ích nhưng không tổ chức đấu giá, không có hợp đồng cụ thể rõ ràng; rà soát các thửa đất công chưa cho thuê tiến hành cho thuê đất nhằm tận dụng nguồn thu để phát triển kinh tế – xã hội của địa phương. Quản lý chặt chẽ các thửa đất công, lưu ý các thửa đất nhỏ, lẻ, xen kẹp tránh trường hợp để bị lấn chiếm trái phép.

4/Đối với đất các cơ quan, tổ chức cũ không còn sử dụng cần rà soát tổng hợp, xây dựng phương án sử dụng đất phù hợp đề xuất lên cấp có thẩm quyền xem xét giải quyết trong năm 2020.

5/ Phối hợp với các cơ quan, tổ chức chưa được cấp giấy chứng nhận QSDĐ và đang có nhu cầu cấp mới để hoàn thiện hồ sơ xin cấp trên cấp giấy chứng nhận QSDĐ hoàn thành trong năm 2020.

6/ Tăng cường hoạt động chỉ đạo, giám sát việc thực hiện nhiệm vụ, trách nhiệm công vụ của cán bộ địa chính. Đồng thời tạo điều kiện cho họ bồi dưỡng nâng cao nghiệp vụ chuyên môn.

Trên đây là báo cáo kết quả giám sát của Ban KT- XH HĐND huyện về công tác quản lý sử dụng đất công tại một số đơn vị trên địa bàn huyện. Đề nghị UBND huyện, Ủy ban nhân dân các xã, thị trấn, các đơn vị liên quan quan tâm, thực hiện./.

Nơi nhận:

– Tổ ĐB HĐND tỉnh bầu tại Vũ Quang;

– TT Huyện ủy, TT HDND huyện;

– Chủ tịch, các PCT UBND huyện;

– Các phòng TC-KH, TNMT;

– Các vị Đại biểu HĐND huyện khóa IV;

– TT HĐND, UBND các xã, thị trấn;

– Lưu VP HĐND.

TM.BAN KT-XH HĐND

               TRƯỞNG BAN

 

Phan Hồng Yến

[1] 250 trụ sở, hội quán với tổng diện tích 821.924,68m2: 143 trụ sở hội quán đã có giấy chứng nhận QSDĐ với tổng diện tích 638.131,58 m2, trong đó có 14 trụ sở hội quán không sử dụng nữa với tổng diện tích 17.816,61m2; 107 trụ sở, hội quán chưa được cấp giấy chứng nhận QSDĐ  với tổng diện tích 183.793,1m2 trong đó có 24 trụ sở, hội quán không sử dụng nữa với tổng diện tích 15.838,4m2.

[2] Cụ thể: GPMB bãi VL1 có 2.560m2 đất của ông Lê Như Huệ, số tiền đã đền bù 782 triệu đồng; Tuyến kênh chính Ngàn Trươi – Cẩm Trang có 1.470,5 m2 đất của ông Lê Văn Hùng đã bồi thường 630 triệu đồng. Hiện nay 2 hộ này vẫn không phải di dời.

[3] Trong thời gian qua các hộ dân đó đã nộp hoàn trả lại ngân sách tổng số tiền 437,033 tr.đồng, còn 456,594 tr.đồng chưa thu hồi được từ 3 hộ dân (Nguyễn Thị Thuận 11,547 tr.đồng; Phan Thị Nhỏ 120,891 tr.đồng, Lê Văn Vượng 324,156 tr.đồng).

[4] gồm 33.204 m2 đất của 6 hộ dân đã đền bù 589,973 tr.đồng và 11.796 m2 đất do xã quản lý.

[5] hành lang kênh mương NTCT qua các xã thuộc huyện Vũ Quang; bãi vật liệu số 1, 2 ở thôn 4 Đức Bồng; bãi vật liệu số 1, 2 tại TDP1 thị trấn;  khu vực đập dâng Đượng Kem tại TDP5 thị trấn.

[6] Hạng mục: Bãi vật liệu số 1 thôn 4 Đức Bồng; tuyến kênh chính Đức Bồng, Đức Hương; hạng mục Đạp dâng ở TDP 5 thị trấn;…

 

 

 

 

tag: cấp xã thực tập chuyên ngành đề cương tốt nghiệp